Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng nhẹ do quan ngại về nguồn cung ở Saudi Arabia – nơi sản lượng giảm 5,7 triệu thùng dầu/ngày sau vụ tấn công ngày 14/9.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc tăng 49 US cent (0,8%) lên 64,77 USD/thùng, trong khi dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 55 US cent (1%) lên 58,64 USD/thùng.
Những thông tin về thời điểm Saudi Arabia khôi phục sản lượng khiến giá dầu thô liên tục biến động. Buổi sáng của phiên vừa qua, dầu Brent có lúc tăng lên 65,50 USD/thùng sau khi Wall Street Journal đưa tin Saudi Arabia có thể sẽ cần nhiều thời gian nữa để khắc phục những thiệt hại từ vụ một số cơ sở lọc dầu bị tấn công hôm 14/9. Tuy nhiên, sau đó giá giảm về 63,53 USD/thùng khi Reuters đưa tin Saudi Arabia có thể khôi phục sản lượng vào đầu tuần tới. Theo Reuters, đến thời điểm hiện tại, Saudi Arabia đã khôi phục được hơn 75% sản lượng bị mất sau các vụ tấn công vừa qua, và Riyadh sẽ sớm đưa sản lượng về mức ban đầu vào đầu tuần tới.
Về những thông tin liên quan, dự báo lượng dầu dự trữ tại các kho của Mỹ trong vài tuần tới sẽ vẫn ở dưới mức trung bình của 5 năm qua, giữa bối cảnh Washington đang tăng cường xuất khẩu để bù lấp khoảng trống nguồn cung từ Saudi Arabia.
Mặc dù vậy, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho rằng không cần thiết phải mở kho dự trữ dầu khẩn cấp. "Hiện thị trường đang được cung cấp đầy đủ và ở thời điểm hiện tại, chúng tôi không nhận thấy sự cần thiết phải thực hiện hành động này", ông Fatih Birol, người đứng đầu IEA cho biết tại một buổi hội thảo video trực tuyến.
Các quốc gia thành viên của IEA nắm giữ khoảng 1,55 tỷ thùng dầu trong kho dự trữ khẩn cấp tại những cơ quan được chính phủ kiểm soát, tương đương nhu cầu dầu toàn cầu trong vòng 15 ngày. Saudi Arabia cũng có đủ lượng dự trữ để duy trì mức xuất khẩu hiện tại trong khoảng một tháng.
Căng thẳng tại Trung Đông đã leo thang kể từ sau vụ tấn công ở Saudi Arabia hồi giữa tháng 9/2019. Thủ tướng Anh Boris Johnson cho rằng Iran có liên quan đến vụ tấn công trên, nói rằng Anh sẽ “bắt tay” với Mỹ và các đồng minh Châu Âu để đưa ra các biện pháp đối phó với Tehran. Lầu Năm góc đã yêu cầu triển khai thêm binh sĩ tại vùng Vịnh nhằm tăng cường khả năng phòng thủ cho Riyadh.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất trong vòng 2 tuần do số liệu kinh tế yếu kém của Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) làm dấy lên những lo ngại về nguy cơ suy thoái toàn cầu và buộc các nhà đầu tư tìm đến những tài sản an toàn hơn.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,5 US cent lên 1.523,51 USD/ounce, sau khi có lúc đạt 1.526,8 USD, cao nhất kể từ 6/9/2019; vàng kỳ hạn tháng 12/2019 tăng 1,1% đạt 1.531,5 USD/ounce.
Các kim loại quý khác cũng tăng giá trong phiên vừa qua, trong đó palađi tiếp tục tăng 0,6% lên 1.650,6 USD/ounce vào cuối phiên, sau khi đạt 1.664,5 USD vào đầu phiên. Kim loại quý này đã tăng giá gần 8% trong tháng này, tương đương khoảng 115 USD. "Doanh số bán cũng như sản lượng ô tô bên ngoài Trung Quốc không kém như dự đoán, do đó nhu cầu palađi dùng trong công nghiệp sẽ tăng hơn so với các tính toán trước đây", ông Jeffrey Christian thuộc công ty CPM Group cho biết. Giá bạc tăng 3,5% lên 18,61 USD/ounce, trong khi bạch kim tăng 1,1% lên 955,85 USD/ounce.
Chiến lược gia cao cấp về hàng hóa Phillip Streible, thuộc RJO Futures, nhận định giá vàng có thể tiếp tục tăng lên 1.550 USD/ounce trong điều kiện “lãi suất thấp, rủi ro địa chính trị gia tăng, Mỹ và Trung Quốc không chưa được thỏa thuận thương mại và số liệu yếu kém cho thấy kinh tế thế giới đang rơi vào suy thoái”.
Theo kết quả một khảo sát công bố ngày 23/9, hoạt động trong lĩnh vực tư nhân của Đức tháng 9/2019 đã giảm lần đầu tiên trong sáu năm rưỡi qua do hoạt động chế tạo bất ngờ giảm sâu và lĩnh vực dịch vụ bị mất đà, trong khi tăng trưởng kinh doanh tại Eurozne đình trệ.
Trong khi đó, Chỉ số nhà quản lý mua hàng (PMI) trong lĩnh vực chế tạo của Mỹ tốt hơn dự kiến đã phần nào hỗ trợ các thị trường chứng khoán không bị rớt giá mạnh, song không ngăn được đà tăng của giá vàng.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm giảm, theo đó hợp đồng giao sau 3 tháng giảm 0,6% xuống 1.785 USD/tấn. Viện Nghiên cứu Nhôm Quốc tế (IAI) cho biết sản lượng nhôm nguyên khai trên toàn cầu trong tháng 8/2019 tăng lên 5,407 triệu tấn, từ mức 5,047 triệu tấn tháng 7/2019. Ước tính sơ bộ sản lượng của Trung Quốc giảm xuống 3,05 triệu tấn trong tháng 8, từ mức 3,06 triệu tấn của tháng 7.
Giá đồng phiên vừa qua chạm mức thấp nhất 2,5 tuần do triển vọng nhu cầu yếu bởi các cuộc đàm phán Mỹ - Trung chưa thấy tín hiệu như mong đợi. Kết thúc phiên vừa qua, đồng kỳ hạn 3 tháng trên sàn London (LME) giảm 0,3% xuống 5.778 USD/tấn; đầu phiên có lúc xuống 5.718 USD/tấn, thấp nhất kể từ 4/9/2019.
Tuy nhiên, ngoài yếu tố chiến tranh thương mại, thị trường đồng vẫn có "động lực" tăng khi "nhu cầu đối với đồng physical không tệ", theo nhận định của nhà phân tích trưởng Guy Wolf thuộc Marex Spectron; và thông tin thị trường đồng thế giới tiếp tục thiếu hụt 21.000 tấn trong tháng 6/2019 sau khi thiếu 70.000 tấn trong tháng 5/2019, theo thông tin từ Tập đoàn Nghiên cứu Đồng quốc tế (ICSG). Tổ chức này cho biết, trong 6 tháng đầu năm nay, thị trường đã thiếu hụt 220.000 tấn đồng, so với mức thiếu 177.000 tấn cùng kỳ năm ngoái.
Về triển vọng năm 2020, nhà máy luyện đồng hàng đầu của Nhật Bản PPC dự đoán tình trạng thiếu hụt đồng trên toàn cầu sẽ ít gay gắt hơn vào năm 2020 do sản lượng của Trung Quốc tăng và nhu cầu dịu đi trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung kéo dài. Cụ thể, nguồn cung và tiêu thụ đồng tinh luyện trên toàn cầu sẽ tăng tương ứng 1,7% và 1,5% vào năm 2020 so với năm nay, theo đó toàn thế giới sẽ thiếu 38.000 tấn đồng vào năm 2020, so với mức 89.000 tấn trong năm nay. Theo ông Naoki Kojima, nhu cầu của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trong năm tới, nhưng tốc độ chậm hơn năm nay.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2019 tăng 0,6 US cent, tương đương 0,6%, lên 99 US cent/lb, trong khi robusta kỳ hạn tháng 11/2019 tăng 12 USD, tương đương 0,9%, lên 1.316 USD/tấn.
Các nhà kinh doanh cà phê lo ngại về ảnh hưởng của thời tiết khô hạn ở Brazil đúng giai đoạn cây cà phê ra hoa, mặc dù mưa xuống trong vài ngày tới có thể giúp cải thiện tình hình.
Giá đường tăng do hoạt động mua đầu cơ mạnh và dự báo thiếu cung trong vụ tới, còn giá cà phê hồi phục sau đợt giảm mạnh gần đây.
Đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 đã tăng 0,13 US cent, tương đương 1,1%, lên 11,22 US cent/lb, trong khi đường trắng kỳ hạn tháng 12/2019 tăng 3,6 USD, tương đương 1,1%, lên 329,3 USD/tấn.
Dự đoán thị trường đường sẽ rơi vào thiếu hụt khiến nhiều nhà đầu tư tích cực mua đường vào để đầu cơ. Tuy nhiên, Ấn Độ có thể gia tăng xuất khẩu vẫn là yếu tố rủi ro lớn đối với thị trường này.
Giá hàng hóa thế giới
 

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

58,64

+0,55

+1%

Dầu Brent

USD/thùng

64,77

+0,49

+0,08%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.060,00

-400,00

-1,01%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,53

+0,00

+0,12%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

167,90

-0,48

-0,29%

Dầu đốt

US cent/gallon

199,33

-0,37

-0,19%

Dầu khí

USD/tấn

612,00

-5,25

-0,85%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.460,00

-510,00

-0,88%

Vàng New York

USD/ounce

1.529,80

+1,70

+0,11%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.230,00

+20,00

+0,38%

Bạc New York

USD/ounce

18,71

0,00

-0,01%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,90

-0,30

-0,48%

Bạch kim

USD/ounce

961,38

+2,24

+0,23%

Palađi

USD/ounce

1.658,58

+3,93

+0,24%

Đồng New York

US cent/lb

261,95

+0,80

+0,31%

Đồng LME

USD/tấn

5.778,00

-20,00

-0,34%

Nhôm LME

USD/tấn

1.785,00

-10,00

-0,56%

Kẽm LME

USD/tấn

2.331,50

+26,50

+1,15%

Thiếc LME

USD/tấn

16.530,00

-195,00

-1,17%

Ngô

US cent/bushel

373,25

+2,50

+0,67%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

483,00

-1,25

-0,26%

Lúa mạch

US cent/bushel

279,75

+4,00

+1,45%

Gạo thô

USD/cwt

12,06

-0,25

-2,07%

Đậu tương

US cent/bushel

892,50

+9,75

+1,10%

Khô đậu tương

USD/tấn

298,60

+3,60

+1,22%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,31

-0,09

-0,31%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

448,30

+0,90

+0,20%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.454,00

-19,00

-0,77%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

99,00

+0,60

+0,61%

Đường thô

US cent/lb

12,21

+0,14

+1,16%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

100,10

-0,05

-0,05%

Bông

US cent/lb

60,91

+0,39

+0,64%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

387,20

+3,40

+0,89%

Cao su TOCOM

JPY/kg

167,50

+0,90

+0,54%

Ethanol CME

USD/gallon

1,38

+0,02

+1,10%

 

Nguồn: http://vinanet.vn