Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô tăng nhẹ do các nhà đầu tư quan ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung tại khu vực Trung Đông sau vụ Iran bắt giữ tàu chở dầu của Anh hồi tuần trước.
Cuối phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 79 US cent (1,3%) lên 63,26 USD/thùng, trong khi dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 59 US cent (1,1%) lên 56,22 USD/thùng.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran ngày 19/7/2019 cho biết, họ đã bắt giữ một tàu chở dầu treo cờ Anh tại khu vực vùng Vịnh nhằm đáp trả hành động tương tự của Anh đối với tàu chở dầu của Iran hồi đầu tháng này. Động thái này đã làm dấy lên những lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung tại Eo biển Hormuz, nơi trung chuyển khoảng 1/5 nguồn cung dầu thế giới.
Bên cạnh đó, số liệu cho thấy xuất khẩu dầu của Saudi Arabia, nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới, trong tháng 5/2019đã giảm xuống mức thấp nhất của một năm rưỡi.
Trước đó, Công ty Dầu khí quốc gia Libya (NOC) cho biết họ đã ngừng nhận dầu thô từ cảng dầu quan trọng Zawiya, thuộc quyền kiểm soát của chính phủ vì lý do “bất khả kháng”, sau khi đường ống nối cảng này với mỏ dầu chính bị "cắt đứt". Đường ống dẫn dầu Shahara nối Hamada và cảng Zawiya đã bị "cắt đứt" một cách bất hợp pháp vào tối ngày 19/7/2019 (theo giờ địa phương) bởi một nhóm chưa xác định danh tính, dẫn đến sản xuất bị đình trệ.
Tuần trước, giá dầu WTI đã giảm hơn 7%, còn giá dầu Brent để mất hơn 6% do những quan ngại về tình hình kinh tế và hoạt động sản xuất của Mỹ tại vùng Vịnh Mexico phục hồi trở lại sau cơn bão Barry.
Ngân hàng Goldman Sachs hôm 17/7/2019 đã hạ dự báo tăng trưởng nhu cầu cầu năm 2019 xuống 1,275 triệu thùng/ngày với lý do những hoạt động kinh tế trên toàn cầu đang chậm lại
Khí tự nhiên cũng tăng gần 3% trong phiên qua trên thị trường Mỹ do dự báo thời tiết nóng và nhu cầu làm mát gia tăng trong tuần tới. Khí tự nhiên kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn giao dịch hàng hóa New York tăng 6,1 US cent hay 2,7% lên 2,312 USD/mmBtu. Trong ngày 19/7/2019, hợp đồng này đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 2/7/2019.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng khi các nhà đầu tư chuyển sang giữ vàng để bảo toàn tài sản. Kết thúc phhiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,1% lên 1.426,44 USD/ounce, hôm 19/7/2019 vàng giao ngay đã chạm 1.452,6 USD/ounce, cao nhất kể từ tháng 5/2013; vàng giao tháng 8/2019 vững ở mức 1.426,9 USD/ounce.
Giá vàng đã tăng mạnh kể từ cuối tháng 5/2019 do lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu yếu và căng thẳng địa chính trị gia tăng ở Trung Đông khiến nhu cầu mua vàng để bảo toàn tài sản gia tăng.
Tuy nhiên, đà tăng của giá vàng bị hạn chế bởi đồng USD mạnh. Chỉ số đồng USD, thước đo của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt đã tăng 0,01% lên 97,26 điểm trong phiên vừa qua. Giá vàng thường di chuyển ngược chiều với đồng USD. Fed được cho là sẽ giảm lãi suất tại cuộc họp vào ngày 30 - 31/7/2019. Ngân hàng Trung ương Châu Âu cũng dự kiến nới lỏng chính sách tiền tệ tại cuộc họp trong ngày 25/7/2019.
Theo nhà phân tích kỹ thuật của hãng Reuters, vàng giao ngay có thể chạm mức kháng cự 1.439 USD, sau khi ổn định quanh mức hỗ trợ 1.421 USD.
Về các kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 9/2019 đã tăng 21,6 US cent (1,33%) lên 16.411 USD/ounce, giá bạch kim giao tháng 10/2019 cũng tăng 0,6 USD (0,07%) lên 852,7 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng loạt giảm do áp lực từ đồng USD mạnh lên và tăng trưởng kinh tế toàn cầu cùng với nhu cầu không rõ ràng, đặc biệt tại nước tiêu thụ kim loại hàng đầu thế giới là Trung Quốc.
Giá nickel, sử dụng chủ yếu trong sản xuất thép không gỉ, giảm trong phiên qua do các nhà đầu tư chốt lời sau khi thị trường vọt lên mức không được hỗ trợ bởi các yếu tố cung cầu hiện nay. Nickel giao sau ba tháng trên sàn giao dịch kim loại London LME đóng cửa giảm 3,1% xuống 14.300 USD/tấn.
Giá nickel đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 6/2018 trong ngày 18/7/2019 sau khi tăng 20% trong hai tuần trước đó.
Các thành phần sản xuất thép nickel và kẽm bị áp lực giảm khi quặng sắt Đại Liên mất giá 1,6%. Dự trữ nickel trên sàn LME đã chạm mức thấp mới kể từ tháng 1/2013, giảm 30% từ đầu năm tới nay.
Quặng sắt trên sàn Đại Liên giảm 1,6% trong phiên giao dịch bởi nhu cầu nguyên liệu sản xuất thép yếu và dự trữ tại các cảng ở Trung Quốc đang tăng. Hợp đồng quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa ở mức 885 CNY (128,67 USD)/tấn.
Giá thép cây kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đóng cửa giảm 0,6% xuống 3.948 CNY/tấn, tiếp tục phiên giảm thứ 4 liên tiếp. Thép cuộn cán nóng sử dụng trong ô tô và thiết bị gia đình giảm 0,2% xuống 3.863 CNY/tấn, giảm phiên thứ 3 liên tiếp.
Ngày 22/7/2019, Trung Quốc cho biết sẽ áp đặt thuế chống bán phá giá với một số sản phẩm thép không gỉ từ Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Indonesia.
Theo số liệu từ SteelHome, dự trữ quặng sắt nhập khẩu ở các cảng Trung Quốc ở mức 118,35 triệu tấn tính tới ngày 19/7/2019, cao nhất từ tuần thứ 2 của tháng 6, phục hồi từ 115,25 triệu tấn, thấp nhất trong 2,5 năm.
Giá quặng sắt lên mức kỷ lục 924,5 CNY/tấn trong ngày 16/7, tăng hơn 100% trong năm nay trong bối cảnh thiếu nguồn cung tại các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới Australia và Brazil đồng thời nhu cầu mạnh tại Trung Quốc.
Mặc dù dự trữ đang tăng, còn quá sớm để kết luận rằng những lo lắng về nguồn cung đã kết thúc. Khối lượng quặng sắt giao dịch vẫn khá yếu trong phiên thứ 3 liên tiếp.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2019 đóng cửa giảm 2,2 US cent hay 2,1% xuống 1,051 USD/lb do giảm lo ngại về thời tiết lạnh tại Brazil.
Marex Spectron cho biết, sau khi xuất khẩu kỷ lục 41,1 triệu bao cà phê trong năm 2018/19, Brazil bắt đầu xuất khẩu cà phê của niên vụ 2019/20 với khối lượng tương tự. Số liệu từ đầu tháng tới nay cho thấy quốc gia này sẽ xuất khẩu 3,3 triệu bao trong tháng 7/2019.
Cà phê robusta kỳ hạn tháng 9/2019 chốt phiên giảm 26 USD hay 1,8% xuống 1.393 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 giảm 0,03 US cent hay 0,3% xuống 11,56 US cent/lb. Hợp đồng này đã mất gần 5,8% giá trị trong tuần trước, giảm mạnh nhất trong 1,5 năm.
Giá dầu tăng có thể khuyến khích các nhà máy mía sản xuất ethanol nhiều hơn. Tuy nhiên, sự hiện diện của đường Thái Lan, thường giao dịch ở mức cao hơn so với giá kỳ hạn, đã cho thấy nhu cầu của Châu Á yếu.
Những lo ngại về xuất khẩu đường Ấn Độ gia tăng cũng gây áp lực lên giá đường thế giới vì Ấn Độ là nhà sản xuất đường hàng đầu thế giới.
Giá đường trắng kỳ hạn tháng 10/2019 chốt phiên giảm 0,6 USD hay 0,2% xuống 315,1 USD/tấn. Sản lượng củ cải đường năm 2019 ở Liên minh Châu Âu dự kiến giảm xuống 73,9 tấn mỗi ha từ ước tính 75,7 tấn mỗi ha trong tháng trước.
Giá cao su TOCOM giảm trong phiên qua theo xu hướng ở Thượng Hải. Hợp đồng cao su TOCOM kỳ hạn tháng 12/2019 đóng cửa giảm 0,6 JPY xuống 184,5 JPY/kg.
Giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải kết thúc phiên giảm 30 CNY xuống 10.715 CNY/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

 

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,22

+0,59

+1,1%

Dầu Brent

USD/thùng

63,26

+0,79

+1,3%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.480,00

-200,00

-0,50%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,31

0,00

0,00%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

183,24

+0,45

+0,25%

Dầu đốt

US cent/gallon

190,06

+0,11

+0,06%

Dầu khí

USD/tấn

583,50

-1,25

-0,21%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.410,00

-230,00

-0,40%

Vàng New York

USD/ounce

1.416,60

+10,30

+0,72%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.912,00

-30,00

-0,61%

Bạc New York

USD/ounce

16,21

-0,20

-1,22%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,60

-1,00

-1,77%

Bạch kim

USD/ounce

845,73

-2,96

-0,35%

Palađi

USD/ounce

1.520,78

-9,11

-0,60%

Đồng New York

US cent/lb

272,35

+0,15

+0,06%

Đồng LME

USD/tấn

6.017,50

-47,50

-0,78%

Nhôm LME

USD/tấn

1.816,00

-32,00

-1,73%

Kẽm LME

USD/tấn

2.417,00

-8,00

-0,33%

Thiếc LME

USD/tấn

17.900,00

+100,00

+0,56%

Ngô

US cent/bushel

429,50

+2,75

+0,64%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

489,00

+1,75

+0,36%

Lúa mạch

US cent/bushel

267,75

+0,75

+0,28%

Gạo thô

USD/cwt

11,92

-0,02

-0,21%

Đậu tương

US cent/bushel

908,00

+2,25

+0,25%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,80

+0,40

+0,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,27

+0,10

+0,35%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

447,00

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.532,00

+65,00

+2,63%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

105,10

-2,20

-2,05%

Đường thô

US cent/lb

11,56

-0,03

-0,26%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

103,05

-1,05

-1,01%

Bông

US cent/lb

63,43

+0,07

+0,11%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

344,00

-9,70

-2,74%

Cao su TOCOM

JPY/kg

183,90

-0,60

-0,33%

Ethanol CME

USD/gallon

1,47

-0,01

-0,48%